This is Delphi, A free premium blogger theme for you.

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2016

Bệnh loãng xương là hiện tượng tăng phần xốp của xương do giảm số lượng tổ chức xương, giảm trọng lượng trong một đơn vị thể tích mà hậu quả là gãy xương một biện pháp tự nhiên hoặc sau một chấn thương rất nhẹ, đặc biệt là sự lún một hay nhiều đốt sống gây biến dạng cột sống.

Loãng xương thường tiến triển rất âm thầm. Nó được ví như “một kẻ giết người thầm lặng” vì chỉ khi khối lượng xương giảm đến 30% thì mới có các biểu hiện trên lâm sàng. Có một số trường hợp chỉ đến khi gãy xương mới được phát hiện có loãng xương. Rất đáng tiếc khi đã có gãy xương thì tình trạng loãng xương đã rất nặng.

Vì sao bị loãng xương?
Ở những nước đang phát triển, chế độ ăn quá giàu chất đạm không tương xứng với lượng canxi được đưa vào toàn bộ các bộ phân cơ thể là một trong một số nguyên do làm giảm khối lượng xương. Thói quen uống rượu, hút thuốc lá cũng là một trong một số yếu tố ảnh hưởng tới khối lượng xương.
Có rất nhiều nguyên do dẫn đến bệnh loãng xương. Tuy nhiên có mẹo hay tới một vài nguyên nhân chủ yếu sau:

Tuổi: Tuổi càng cao mật độ xương càng giảm. Ở người già có sự mất cân bằng giữa sự tạo xương và huỷ xương, có nhiệm vụ của các tế bào tạo xương bị suy giảm là một nguyên do dẫn tới tình trạng mất xương ở người già. Một nguồn gốc thứ hai dẫn tới sự mất xương ở người già là sự suy giảm hấp thu canxi ở ruột và sự giảm tái hấp thu canxi ở ống thận. Tham gia vào hấp thu canxi ở ruột có có chức năng của tiền vitamin D, là một chất được tổng hợp từ ánh sáng mặt trời mà ở người già thời gian tiếp xúc với ánh sáng mặt trời thường giảm.

Khối lượng xương đỉnh: là khối lượng của mô xương lúc kết thúc khoảng thời gian trưởng thành. Trong quá trình phát triển, sự tạo xương lớn hơn sự mất xương, khối lượng xương tăng dần để đạt tới Giá sản phẩm trị tối đa được gọi là khối lượng xương đỉnh. Thường tốc độ hiện diện xương cao ở xung quanh tuổi dậy thì, đạt độ đỉnh ở tuổi 30. Khối lượng xương đỉnh ở tuổi trưởng thành là một trong những yếu tố quyết định khối lượng xương của các bộ phân toàn bộ cơ thể. Hai yếu tố quan trọng chọn lựa sự khác nhau của khối lượng xương đỉnh là yếu tố di truyền và mức canxi trong chế độ ăn.

Cân nặng và chiều cao: Ở một vài người nhẹ cân sự mất xương xảy ra mau hơn và tần suất gãy cổ xương đùi và xẹp đốt sống do loãng xương cao hơn. Ngược lại, cân nặng cao là một yếu tố bảo vệ hầu hết các bộ phân cơ thể khỏi hiện tượng mất xương thông qua việc tăng tạo xương. Cũng như cân nặng, chiều cao cũng ảnh hưởng đến mật độ xương. Những người tầm vóc nhỏ có khối xương thấp hơn nên dễ có nguy cơ loãng xương.

Yếu tố dinh dưỡng: Dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến hiện tượng của bộ xương. Như trên chúng tôi đã trình bày chế độ ăn không đầy đủ canxi sẽ ảnh hưởng đến sự đạt được đỉnh cao của khối xương và sự mất xương sau này. Có nhiều tìm hiểu đã chứng minh với hai ly sữa giàu canxi mỗi ngày có tốc độ mất xương chậm hơn rõ rệt so với không uống sữa. Ở một vài nước đang phát triển, chế độ ăn quá giàu chất đạm không tương xứng với lượng canxi được đưa vào cơ thể là một trong một số nguyên nhân làm cho giảm khối lượng xương. Thói quen uống rượu, hút viên uống lá cũng là một trong một số yếu tố ảnh hưởng tới khối lượng xương.

Yếu tố vận động: Sự giảm vận động ở những nguời lớn tuổi là một yếu tố nguy cơ dẫn đến sự mất xương. Sự vận động của các cơ kích thích sự tạo xương và tăng khối lượng xương.

Tình trạng mãn kinh: Ở chị em sự mất xương hiện diện sớm hơn từ 15 – 20 năm so với nam giới do hậu quả của sự suy giảm có có trách nhiệm buồng trứng một cách rất nhanh sau mãn kinh. Người ta cũng thấy khối lượng xương thấp và tốc độ mất xương nhanh ở một số quý bà bị cắt bỏ buồng trứng (mãn kinh do phẫu thuật).

Các bệnh lý gây loãng xương: Các bệnh cường giáp, suy giáp, cường cận giáp, cường tuyến thượng thận, đái tháo đường, cắt dạ dày ruột, rối loạn tiêu hoá kéo dài, suy thận, xơ gan, các bệnh khớp mạn tính…

Các yếu tố khác: Việc thường xuyên dùng những thuốc như corticoid, thuốc lợi tiểu, viên uống chống đông làm dài thêm. Người ta cũng đề cập đến yếu tố di truyền, tình trạng sinh em bé…

Tri ran da o phu nu bầu bí

0 nhận xét:

Đăng nhận xét